Bệnh thiếu máu não

Bệnh thiếu máu não (hay thiểu năng tuần hoàn não) thường gặp ở những người đứng tuổi. Bệnh có nguy cơ gây tử vong thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư.

Các bệnh lý về mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau bệnh tim mạch và ung thư. Bệnh thường gặp ở những người đứng tuổi. Tỷ lệ thường gặp của chứng này là 2 - 8/1.000 dân/năm và chiếm 9-25% tổng số các tai biến mạch máu não; phần lớn người bệnh là nam giới, 75% trường hợp người bệnh trên 60 tuổi. Tỷ lệ tái phát thành tai biến mạch máu não chiếm 6-8% trong những tháng đầu và 3-5% ở mỗi năm sau. Chỉ tính riêng ở Mỹ, chi phí y tế cho bệnh này chiếm khoảng 40 tỷ USD hằng năm.

* Nguyên nhân gây thiếu máu

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới - thiểu năng tuần hoàn não hay thiếu máu não là trạng thái nhất thời, xảy ra đột ngột do các thiếu sót về chức năng thần kinh, thường hồi phục hoàn toàn sau 24 giờ và có xu hướng lặp lại nhiều lần.

Não bộ thường được nuôi bởi 2 hệ động mạch cảnh và 2 động mạch cột sống (động mạch thân nền) ở hai bên cổ. Giữa chúng còn có một hệ thống kết nối, liên kết với nhau trên bề mặt vỏ não và nền sọ để bù trừ khi một nhánh nào đó bị tắc hay đột ngột có vấn đề không bảo đảm đủ máu nuôi não. Bình thường não tiếp nhận chừng 15% cung lượng tim (50 ml máu/100 gr não/phút) và sử dụng 25% tổng lượng oxy cung cấp cho cơ thể. Do đó, có rất nhiều nguyên nhân gây thiếu máu não:

- Xơ mỡ động mạch làm hẹp lòng ống để chứa máu và vận chuyển (nguyên nhân chính chiếm 60 - 80%).

- Dị dạng bẩm sinh hay u, sùi, bóc tách thành mạch làm hẹp lòng mạch.

- Các cục máu đông gây cản trở dòng tuần hoàn máu.

Thoái hóa, vôi hóa đốt sống cổ làm đè ép vào mạch máu vốn đi chui trong lòng chúng.

- Các chèn ép từ bên ngoài vào thành động mạch...

* Biểu hiện bệnh

Nhu cầu sử dụng oxy của tế bào não là cao nhất trong các cơ quan của cơ thể. Bình thường não chỉ sử dụng 35% lượng oxy mang đến. Lưu lượng tưới máu não bình thường 50 ml/100 gr não/phút, tuy nhiên khi lưu lượng tuần hoàn máu lên não giảm dưới 40 ml/100 gr não/phút thì tổ chức não bắt đầu có các biểu hiện bị ức chế do thiếu oxy, tổn thương không hồi phục hoặc hoại tử tổ chức não sau 2 - 3 phút (khi lưu lượng máu tuần hoàn thấp hơn 10 ml).

Các yếu tố nguy cơ của nó thì rất nhiều nhưng đứng hàng đầu vẫn là cao huyết áp, tiểu đường, tăng homosystein máu và nhất là các trạng thái tăng mỡ máu. Nghiện rượu, béo phì, hút thuốc lá, dùng thuốc tránh thai... là những nguy cơ dẫn đến các rối loạn về mạch máu não.

Biểu hiện của bệnh thường diễn ra rất nhanh, chỉ trong vài giây hay đôi khi kéo dài hơn đến vài giờ. Các triệu chứng của bệnh tùy thuộc vào sự thiếu máu của động mạch não nhưng thường thấy nhất là trạng thái không ý thức tạm thời, chóng mặt, rối loạn thăng bằng, mù tạm thời một bên mắt, liệt nhẹ nửa người, rối loạn cảm giác, nói khó, rối loạn ngôn ngữ tạm thời v.v...

* Phòng và chữa bệnh

Bệnh có thể được chẩn đoán qua siêu âm Doppler, CT-Scan, chụp động mạch não, lưu huyết não đồ, chụp cộng hưởng từ (MRI)... hay gián tiếp thông qua điện não (EEG), xét nghiệm sinh hóa và đông máu...

Bản chất các tổn thương ở não trong thiểu năng tuần hoàn là do thiếu oxy và Glucose làm tế bào thần kinh bị đói năng lượng - gây rối loạn vận chuyển các ion làm tổn thương tế bào thần kinh. Việc điều trị chủ yếu làm sao cho mạch máu không còn bị hẹp và không gây ra các cục đông vón trong lòng mạch làm cản trở dòng chảy của máu như dùng thuốc: Aspirin, Ticlcodipin, Dipiridamol, các thuốc chống đông máu...

Cố gắng tìm ra các nguyên nhân gây nên thiểu năng tuần hoàn não để xử lý được tận gốc. Nếu phát hiện thấy các dị dạng mạch máu não thì nên phẫu thuật hay tìm các biện pháp giải quyết triệt để khác trước khi để chúng gây ra tai biến. Khi đã có các tổn thương ở não do thiếu máu gây ra thì việc sử dụng các chất bổ giúp phục hồi hoạt động của các tế bào thần kinh (Cerebrolysin, Gliatilin, Vitamin nhóm B...) là điều nên làm để giảm bớt tỷ lệ các di chứng sau đó.

Ngoài ra, tập luyện thể lực thường xuyên, yoga, dưỡng sinh cũng giúp tăng cường khả năng điều hòa, tự bù đắp của cơ thể và góp phần giảm bớt sự hẹp lòng mạch do xơ mỡ hay các cục vón tắc.

Theo báo Thanh niên

Quảng Cáo